“Áo xưa dù nhàu…”

“cha`ngggg là chàng ggggg ơi ! ới ớớớớớớớ ơi chàng là chàng ơi ………!”câu chèo cứ ngân mãi trong tai óc cả tuần .Làm tôi phải trở lại với những đĩa chèo vừa tậu được “qua những chuyến đi”nghe hoài cho thỏa thich .Tính tôi kỳ vậy đã mê là say như điếu đổ .

Vậy mà hồi xưa .

Thời xa vắng

Cái thời mà “nghèo mồng tơi không kịp rớt”cứ khoảng trưa chờ mong mục “dân ca và chèo” nhưng chỉ dân ca như vọng cổ,hò Huế,quan họ thì nghe chứ chèo là bỏ đi …câu cá .Ẻo lả ,í a đó là đánh giá hiền lành chứ có thằng còn trắng trợn tuyên bố “Nghe chèo chán như bóp vú đàn ông” !!!Mà hồi đó đâu sẵn hệ thống truyền thanh như bây giờ cho cam.Cả xóm may ra mới có một cái loa công cộng ,khi “thuận buồm xuôi gió” thì cả làng dù muốn hay không cũng phải nghe “định kỳ”còn không thì phải là những kẻ “chịu chơi” như bọn tôi là phải ngồi ngay dưới cột “đài”hóng theo chiều gió để thưởng thức ,khoái nhất là những buổi tối “tiết mục tiếng thơ”,hoặc “kể chuyện cảnh giác”của đài tiếng nói Việt nam, lâu dằng dặc mà vẫn còn đâu đây tận “đáy tâm hồn”.

Hồi đó xe đạp cũng phải cần đăng ký .Xe nào cũng có tấm biển số lủng lẳng để khỏi bị “cầm nhầm”nghĩa là cũng đòi hỏi chứng nhận,giấy má,trăm thứ bà chằng như xe ô-tô thời nay vậy chỉ thiếu tấm bằng …lái xe đạp mà thội.Bởi vậy Radio không những là một thứ hàng xa xỉ phẩm,mà còn là “Tiên là Phật,là sức bật của lò-xo,là thước đo của lòng người,là tiếng cười của nhân loại”,phải là cán bộ huyện,tỉnh hoặc những chàng “cao bồi xóm” con nhà khá giả mới dám bọc cái “đài” nhỏ tí xíu vào hộp da cẩn thận,tìm cho được mấy con pin cũng là vấn đề nan giải ,nhiều khi không có pin nhỏ thì người ta “Khó khăn khắc phục” bỏ pin đại vào cái ống nứa rồi nối dây nhựa lủng lẳng bỏ ngoài trông ngồ ngộ,.song điều đó đâu có nhằm nhè gì cứ có “đài” là được coi như là nhà giàu,tay chơi sành điệu. Cái ống nứa chẳng qua là trí tuệ, cải tiến “cái khó,ló cái khôn”hơn nữa nó còn là như chân chống,chắc chắn bảo đảm vững vàng hơn khi trịnh trọng đặt nó lên trên bàn độc như viên gạch đè giữ cái địa vị xã hội,tay chơi thời thượng mà bây giờ được thay bằng từ mới “XỊN” việc thiếu thẩm mỹ đều được xí xóa .Các “đại gia” bấy giờ thường hãnh diện treo nó lủng lẳng như tấm “huân chương”to tổ bố bên hông ,cưỡi xe đạp đi qua cánh đồng thì cố mở thật to làm cho các o bỏ cấy mà thèm thuồng ngóng theo .

“Một yêu anh có ra-đi-ô
Hai yêu anh có đồng hồ đeo tay,,,”

Đó là “quê choa” nơi “địa linh nhân kiệt” nơi trọng nghĩa khinh tài bởi vậy mà người ta dám làm thịt cả con gà để mời cho được bất cứ ai có “đài”-không cần biết đó là Philip hay O-đi-ông –tông- ngủ lại một đêm để được chung hưởng tối văn nghệ cho cả nhà.Ngủ lại để phải có ngưoi điều khiển cái máy nói. Chứ không tụi nó phá ,vặn đi vặn lại cái núm nho nhỏ,xinh xinh nhưng lại lọec khọec như thằng ho lao có mà rách việc .Còn Hà thành văn vật “Tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa”thì các cô còn đòi hỏi cao hơn,thực tế hơn:

Một yêu anh có xây-kô (Seiko)
Hai yêu anh có Pô-giô cá vàng (Peugeot)
Ba yêu nghề nghiệp vững vàng
Bốn yêu lý lịch rõ ràng thủ đô

Vậy mà thằng bạn tôi “chỉ riêng giọng nói cũng nghe nhọc nhằn”, lại vớ được một em không những là gái thủ đô mà còn có sổ đỏ hoa khôi thành phố.Hen gì lâu nay cứ thấy nó thậm thụt ghép vần làm thơ nịnh hoa sữa – hoa thủ đô- đại loại theo kiểu con cóc:

“Trong vườn khoe sắc ngàn hoa
Chỉ riêng hoa sữa, mới là hoa khôi”

Bạn bè thì bảo bởi vì nó “đẹp trai, có võ, lại biết tiêu tiền”,còn kẻ ganh tức thì ví như mèo mù vớ được cá rán .Không biết có võ và biết tiêu tiền hay không nhưng cá rán thì có .Chả là dù sinh ra ở Hà nội lớn lên là người đẹp điểm trang cho phường phố thủ đô nhưng gốc gác của em lại nằm chênh chênh bên bờ sông với cát trắng phẳng lì .Những lúc có dịp là tôi lại được điếu đóm “đưa em về bên kia sông Đuống…”.

Qua hàng dâm bụt xén tỉa gọn gàng là lối vào năm gian nhà ngói,sân gạch rộng bề thế có hai cái chum xinh xinh dưới gốc cau hứng nước mưa cho ông ngoại pha trà.Chả biết ở đâu ra mà cứ mỗi bận về là tụi tôi lại được hưởng cá rô rán .Những con cá nhỏ bằng hai ngón tay, béo, vàng nục làm sạch bụng nhưng không lóc vảy đâu nhé bỏ vào chảo mỡ vàng cánh gián là ăn được .Chao ơi chỉ nói vậy mà đã thấy lộp cộp chân răng.Nghe đâu ông bà nàng có vai vế trong phường chèo .Ah ha đúng là ghét của nào trời trao ngay của ấy,nhiều tối cái chị em mượn cái gân gạch tập tành.Cũng may những lúc ấy mình chỉ cần chăm chú như kiểu say mê mà không cần phải chuyện trò, trọ trẹ mà nhiều khi nói xong rồi phải hỏi “đồng bào nghe tôi nói có rõ không ?”cho chắc chắn .

Nói ra sợ mất lòng em ,không phải định kiến chứ chèo hồi đó quá “già” đối với chúng tôi;không phải tuồng tích cũ,xưa như trái đất thì cũng những vở ca ngợi “đường cày đảm đang”. Mới lớn chưa xa đã tâp làm nhung nhớ thì mấy bài như “Hạ trắng”,”Diễm xưa” học lỏm được từ bên kia giới tuyến nghe ướt át,lung lay cái cõi lòng hơn,mà nhất là với cái giọng trong trẻo của em cô gái Hà thành thì chả hỏi vẫn biết sỏi đá cũng phải đau…tim.Chỉ riêng mỗi chèo văn mới làm cho lòng tôi chòng chành, lắc lư con tàu đi.Bởi vì thủa nhỏ thường hay theo bà ngoại đi –ăn của –chùa.Hình ảnh những người thành thị,nhàn nhã sạch sẽ trong quần lĩnh, áo điều ,khăn đóng, những người hầu đồng choàng khăn đỏ, đội cái mâm đồng thau vàng rực để lễ vật lúc la,lúc lắc theo điệu hát văn,để mọi người tấm tắc “cô múa đẹp lắm” bất kể “cô” là đàn ông hay những bà già móm mém,răng đen khóe chỉ môi trầu gợi lại cho tôi một cảnh xúng xính,vàng son .Hát văn nếu chỉ TÍN mà không MÊ là một nền văn hóa đẹp ,bổ ích .

Thế rồi chúng tôi phải xa nhau vời vợi tới mấy chục cái mùa hoa sữa nở rồi thôi rơi .Nơi xa được tin em gái mất tôi cũng không thể tưởng tượng nổi để mà xót xa như cái ngày về thăm chốn cũ.Đứa con gái của bạn tôi thì đúng là gia tài của mẹ .Nó giống em như đúc từ khuôn mặt, tiếng nói,nét đi .Tôi biết bố mẹ nó đã nói rất nhiều về tôi qua ánh mắt cử chỉ thân mật,ấm cúng từ lúc vừa gặp mặt,cháu gái nhẹ nhàng giúp hai mái đầu muối tiêu lẳng lặng,luống cuống như hai đứa trẻ lên mười thắp mấy nén nhang cho người bạc mệnh.Đã qúa hiểu nhau cho nên chúng tôi cũng chẳng nói điều gì ,cho tới khi nó lẵng lặng lấy cái gói nhỏ thắt buộc cẩn thận .Mấy cuốn băng “cát-sét”,tấm hình của em ngày con gái ,dải yếm đào với tấm áo “ngày xưa”

-Tao hứa với em trước lúc chia phôi là đưa đến tận tay mày .Trước lúc đi nàng còn qua tao gửi lời chào vĩnh biệt !

Hình như tôi hực một tiếng thật lớn,nhắm mắt để ngăn giòng dư lệ rồi tất cả,tất cả đều tối bịt bùng.

Chưa tới mùa,nhưng mùi hoa sữa lại nỗng nàn quanh tôi, thay cho sức nóng hựng hực của cái nắng cuối mùa “tháng tám nám trái bưởi ”không lẽ nào? không lẽ nào ……..” và đâu đây, tiếng hát của em ngày nao trong thinh không nhè nhẹ quện vào mùi hương nồng nàn thủa ấy :

“Áo …xưa …dù …nhàu
cũng… xin… bạc… đầu
Gọi… mãi… tên… nhau !!!”

Advertisements

Thanh Chương Ngày ấy

 Đó là dạo chiến tranh khốc liệt chúng tôi phải theo trường sơ tán mãi Thanh chương .Mười hai cân gạo, năm đồng bạc và một cái hôn trên trán mẹ tôi ngẹn ngào như muốn nói: “Liệu mà cao chạy xa bay,thương con cũng chỉ có thế này mà thôi” còn ba tôi thì bình thản “vậy là cũng bằng tiêu chuẩn của bộ đội rồi đó” theo ổng thì thời chiến “đâu cần thanh niên có,đâu khó có thanh niên” Tác phong anh bộ đội là cần thiết .

Hồi đó năm đồng bạc chưa mua nổi hai bát phở (3 đ/bát).Nhưng với khí thế “biến không thành có,biến khó thành dễ, biến thiếu thành đủ ,biến cũ thành mới”điều đó có hề chi .Vui vẻ lên đường .

Không còn nhớ là đường số mấy nhưng cứ dọc theo hướng Nam Đàn quá quê Bác là rú Đụn, truông Đụn là trọng điểm ác liệt nhất hầu như định kỳ cứ từng giờ bom lại thả xuống và đó cũng là địa điểm cuối cùng của máy bay quỷ sứ bất kỳ trút hết “của nợ” trước khi trở về hú hí .Thành ra gọi là đường nhưng chỉ là cái dốc cao với hố bom chồng chéo, biết đâu vần còn những qủa bom chưa nổ đang bị vùi dí đâu đây.Thành ra tới đó là phải nhanh chân và cũng cần may mắn nữa .Vừa qua dốc thở phào ,chợt thấy mấy cái bóng con gái đang hì hục đẩy xe đạp thồ lủng củng nhùng nhằng ,chằng chéo sau xe vội chạy xuống giúp .Hóa ra đó là “con tóc đỏ”(hồi đó tụi tôi thường mày tao chi tớ với nhau lịch sự hơn thì xưng tên vậy thôi).Tiếng là người đẹp của trường nhưng lại nghịch và láo như quỷ sứ,nhất là những lần gặp tôi là nhí nhéo: “Thằng bốn chữ” -chả là tên họ tôi dài loằng ngoằng bốn chữ như con gái- PHAN VĂN NHƯ TÒM .Tình cờ lại gặp nhau đây,muốn cắt cái áo lại phải may cái quần” chuyện cũ bỏ qua tôi chỉ giúp nàng vượt qua khó khăn,nguy hiểm .Không còn cái vẻ ngỗ ngược nữa mà trước mắt tôi là nữ sinh bé nhỏ ngượng ngùng lí nhí “cảm ơn”.

Có chúng tôi cho nên lên xuống chuyến đò ngang để đến Thanh Hà dễ dàng hơn.Đúng là đàn bà con gái ai đời đi học mà cứ như “ra ở riêng”cũng đủ trăm thứ bà chằng ,nào nồi niêu xoang chảo,gạo củi tùm lum,rồi hũ ruốc và mấy chai nước mắm .Thù cũ nhanh chóng lãng quên nàng cũng muốn nhà trọ gần rồi góp gạo thổi cơm chung .Hội ý chớp nhoáng ,chúng tôi đồng ý ngay.

Đây là lần đầu tiên đến Thanh Chương,cảnh vật là lạ thứ nhất là guồng nước chỉ thấy trong sách giáo khoa, bây giờ đã hiện ra trước mắt,trong tầm tay.Nhà cửa thì cheo leo theo sườn núi ,có giếng nước rất sâu,trong vắt, mát và ngọt lịm người .Chỉ vài bước sau nhà là lên tới những đồi cây dương xỉ chiều chiều lên đó nằm ngả ngắm hoàng hôn và những vì sao sớm .Cây dương xỉ đẹp như những cành nguyệt quế bé nhỏ, khô ráo,sạch sẽ nằm rạp ra êm như nệm chúng tôi tha hồ đếm những những vì sao.Sau đó nhân tiện cắt một ít về chỉ phơi một nắng là làm củi rất đượm .

Cũng may mà có bàn tay con gái và mấy thứ “rườm rà” chúng tôi cũng xung túc được vài tuần sau đó thì chỉ nhờ vào lòng hiếu thảo của O,chú chủ nhà. Lần đầu thì đĩa nhút sau đó thấy tụi tôi chẳng có gì ngoài gạo họ cho cai quản  luôn cả vại nhút .Trưa chiều đều nhút,lười thì ăn sống ,không thì trộn nước sôi bỏ ít muối và mì chính làm canh ăn qua bữa .

Nhà tôi trọ có cậu bé ít hơn vài tuổi biết chơi đàn bầu .Tôi thường đệm ghita cho cậu ấy chơi “Bèo giạt mây trôi” hay “xe chỉ luồn kim” .Một hôm vừa tỉnh dậy đã thấy cậu bé bê lên một dĩa trong đó có đúng ba con dế mèn đã rang vàng lụm .Chúng tôi ba đứa nhìn nhau tiến thoái lưỡng nan. Đã từng đọc “dế mèn phiêu lưu ký” đã từng bắt nhừng con dê mập mạp để nuôi và quý như gà chọi .Dế mèn là bạn,chưa từng biết dế mèn theo kiểu rô-ti này .Thôi đành nhắm mắt đưa ………tay .Thật kỳ lạ những con dế vậy mà béo ngậy,dòn  như cá rô rán .Ăn xong cả lũ kéo nhau ra suối lùng bắt ngay về cải thiện . 

Tuy chiến tranh nhưng thành phố cũng có nét đặc thù của nó .Ngày và đêm vẫn còn có tiếng xe hơi ,vẫn có tiếng còi tàu và những tiếng dồn dập của đoàn quân ra tiền tuyến .Còn nơi đây tĩnh mịch,êm ắng lặng người.Những đêm trăng đưa đàn ra gẩy .Vừa học Ghita thì chỉ những bài nhạc xanh “Chiều thanh vắng là đây âm thầm gió rì rào” rồi “Kachusa”và “Kìa em ngước nhìn ai qua cặp mắt nâu huyền” v.v.v ngoài ra nhạc vàng,thích nhất là “nỗi buồi hoa phượng” còn những bài như “Giải phóng Miền Nam,hay Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân thì những tay mơ như tụi tôi làm sao chơi nổi .Đêm miền quê,trên núi tiếng vọng rất lớn vang cả làng,vậy là ngày mai bị kiểm điểm vì “thanh niên chậm tiến” không có tư tưởng tiến bộ hát những bài lãng mãn ,bị cấm đoan.Với những ông thầy cổ hũ “cứ  bài hát có anh anh,em em là lãng mãn phản động rồi” thành thử có thằng hát “thương em bên ấy mưa nhiều”(Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây)cũng từng bị kiểm điểm nhầm  Khổ cho nàng có giọng hát hay lại bị gán gép “đàn đúm” với con trai là tội rất nặng của học trò thủa ấy.

Chán nản tôi chạy vào xóm trong với những đứa bạn trai .Tụi nó vui đáo để .Đúng là “trai ở trại,gái ở bầy” .Chuyện thằng A láo lếu với chủ nhà là “Đưa chỉ có hai trăm đồng,làm sao đủ sống” –Ngày đó lương tháng cán bộ chỉ 50 đồng /tháng-rồi chuyện thằng B để cà phê trong lọ peneciline bé bằng ngón chân cái mà lại dám hô hào quảng cáo “tụi mày uống thoải mái đi”.Rồi bày chuyện trộm cam hàng xóm .

Hồi đó nhà nào có cam người ta trông coi kỹ lắm,hàng ngày đếm từng quả .Cam để biếu,để bán kiếm thêm tiền và cũng để thờ cúng tổ tiên vậy mà cũng không thoát khỏi mấy học trò tỉnh tinh nghịch .Tối tối khi mọi nhà quanh bên bếp lửa khề khà điếu thuốc lào,chè chát chờ tới giờ lên giường .Mấy đứa chia sẻ kinh nghiệm :”Hái cam ngay trước khi bước vào nhà” tôi nghi ngờ tụi nó giải thích “khi vào người ta không để ý chứ khi chào ra về thế nào họ cũng ngóng theo,trộm sao nổi” ha ha ha đúng là bày dại cam mới hái “thơm như múi mít” dám bỏ túi mà ngồi hóng chuyện cạnh chủ nhân,khác nào “lạy ông con ở bụi này”.Nó cười nắc nẻ “cái hay là ở chỗ này,hái xong mày cứ liếm cuống của nó đố có nghe mùi nào”đúng là “nhất quỷ nhì ma”    

 Tôi thì nghịch nhưng “non hột lắm”chuyện cam .quýt chỉ nghe vậy thôi chứ không bao giờ thư.Chỉ có một hôm chân bị đau,cà nhắc tới thằng bạn “con chấy cắn hai” Tụi nó chuẩn bị đi ăn trộm mía, dẫm miểng chai còn băng chằng chéo vậy mà không thoát tụi nó cứ nằng nặc “đi cho vui” qua suối thì có thằng cõng cứ như chuyện “Ngêu ,Sò ,Ốc,Hến”.Đúng là vui thật,đồng không mông quạnh ,mía cao lụt người chỉ mình “ta với ta” tha hồ vừa ăn vừa bẻ bó đem về .Chợt nghe tiếng người “đây rồi đây rồi” vậy là ba chân bốn cẳng mạnh thằng nào thằng nấy bỏ chạy tứ tung ,quên cả chân đau người về trước vẫn là tôi ,sau này mới biết người ta đi tìm trâu lạc nghe tiếng động “như tru phá ràn” mà cả hai bên hiểu lầm ,vậy là được trận cười vỡ bung.

Nghịch là chính nhưng hồi đó chuyện vỡ lỡ là bị kỷ luật ,bị quy là phá hoại,phản động,không bị xử bắn nhưng đuổi học như chơi. Với ai chả biết chứ với nhà tôi bị đuổi học không những là giữa đường đứt gánh,như Điệp bị Lan cắt đứt giây chuông ,là tạ từ vĩnh biệt.Đối với tôi như thế là hết ,là “thôi rồi Lượm ơi”. Thành ra “cất tận đáy tâm hồn” chỉ sau này lấy ra làm chuyện cười đưa cay những ngày hội ngộ .

Trong đám cùng lứa thì chỉ có thằng bạn “Liếm cuống cam” là khôn nhất .Cùng năm sinh nhưng không hiểu vào giờ nào mà nó láu lỉnh thế,gì cũng biết ,chuyện của ai nó cũng xía vô bình luận,giảng giải ,có khi đúng nhưng sai thì nhiều tuy vậy nó lại có tài hùng biện,cù nhầy.Tỉ dụ như chiến thắng Điên biên,tướng Đờ Cát đã nói thầm với nó thế này thế nọ ai mà nhẹ dạ thì cứ tin như nó là người trong cuộc; rồi thì khi làm văn bịa chuyện các vị lãnh tụ Trường Chinh nói thế này Lê Duẩn thế nọ mà có dẫn chứng hẳn hoi “nhà xuất bản sự thật trang 150 giòng 4 vân vân và vân vân”.Giá có người bảo hiện giờ dân số Thanh chương là ba vạn người thế nào nó cười cười nham nhở cãi bướng là ba vạn hai trăm sáu mươi lăm không tin thì đếm lại .Ai biết .Có khi bực mình tôi gắt “Chả biết má mày dẫm phải gì mà sinh ra thằng trời đánh” nó chỉ cười nắc nẻ :”Giàng ơi !!!không có tao thì đời mất vui,không có tao thì cây không trái ,gái không chồng ,đàn ông không vợ,đàn bà không con!” thật hết nước nói .

Thanh chương là đất học .Dấu tích là những bức hoành,bức trướng chữ Nho sơn son thiếp vàng ,nhưng bây giờ ít ai hiểu ý nghĩa của nó .Cứ vào nhà nào có những thứ đó là ôi thôi ngồi nghe nó đọc rồi giải thích mút mùa nhiều người phục lăn đưa ngô khoai ra đãi .Phải nói rằng nó cũng biết đôi chút chữ Tàu chả là má nó người Hoa thủa bé có đi học trường Hoa đến hết tiểu học thì chiến tranh mấy ông thầy chạy hết ra Ha nội thành thử nó chuyển sang học trường Việt luôn .Có nhà trước ông bà làm quan được vua thưởng bức đối đẹp lắm nhưng giấu kỹ vì không hiểu là gì nhờ nó giúp đỡ, không chút chần chừ nó giõng dạc:

THIÊN ĐỊA THỦY PHONG THẦN TÂN CƯ

PHÚC THỌ LỘC TRƯỜNG HƯƠNG CHÍNH PHẢI

lần này thì tôi hơi nghi ngờ bắt nó viết lại để kiểm chứng ,nó nghiêm mặt “Mới hết tiểu học tao chỉ biết mặt chữ chứ không viết được,cũng như mày chơi cờ tướng,xe pháo mã mày xếp như chớp ,đâu có lầm với tướng sĩ tượng, nhưng thử hỏi nhắm mắt, mày viết lại có được không?” phục thật

Vào những ngày giáp tết thì thật là náo nức.Tết!! ngừng bắn là có thể được về Vinh ,để bát phố,và nhất là được ăn no nê cho bõ những ngày dài, khốn khổ, đói meo . Theo chúng bạn tôi cũng vào rừng hái lá dong về làm quà cho dù ở nhà chả gói bánh chưng .

Tuy ở được vài tháng nhưng đây là lần đầu tiên chính thức vào rừng .Cứ ngược dòng suối nếu lạc thì theo dòng chảy thế nào cũng về xuôi bài học vở lòng về rừng ghi nhớ .

Chỉ bìa rừng thôi cũng mới mẻ khác lạ ,không như những đồi dương xỉ thấp lè tè chưa tới đầu gối ,không như những đồi đá ở rú Quyết mà khi bé thường trốn lên hái sim,tìm con Cù liền lông vàng xù như những con cún bé nhỏ ,về nhà bỏ vào bóng tối,thổi rượu lên nuôi .Rừng ở đây đúng nghĩa của nó,cây cối rậm rạp,lớp thấp lớp cao tranh nhau những giọt nắng vàng chen kẽ lá .Hai bên bờ suối nước trong veo là những hàng dong xanh biếc khỏe khoắn như mời chào “Rừng ơi ta đã về đây,mang sức của đôi tay…” .Mấy đứa trẻ con cháu dân cày đường nhựa ,lần đầu tiên trên miền đất hứa.tha hồ ca hát tưởng tượng như mình đang ở đâu đây “bước trên trên giải Trường sơn” “đá mòn mà đôi gót không mòn”.Chặt một cành cây làm gậy Trường sơn “ngắt một đóa hoa rừng cài lên mũ ta đi”. Say sưa với cảnh vật mà không biết tới  nhũng con vắt nhỏ bé giờ đã no tròn bụng máu .Chạy hối hả ,bỏ cả những bó dong vừa hái “theo giòng suối” may mà chưa đến nỗi chết ngất.Về nhà rồi mà lâu lâu thấy nhồn nhột là mò ra một con đầy bụng máu .Hú vía

Cũng may đó là những ngày cuối .Lệnh ngừng bắn từ vĩ tuyến 17 chúng tôi hớn hở đi về .Mấy cái lán tre ,bàn ghế đưa về xuôi cũng được khối tiền .Mấy thầy trò bàn nhau đóng bè về xuôi .Không có kinh nghiệm đi bè ,nhưng điếc đâu sợ súng vả lại “tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu” đâu có sợ gì ai

Cuối cùng cũng gom lại được hai mảng lớn.Không dám ra sâu chỉ men theo bờ vật vờ theo giòng nước chảy .Trên bè cũng có lán che nắng che mưa,có ông đầu rau để lo trưa chiều cơm cháo .Gạo có, nước đã  sẵn giòng sông và công học trò ,Còn đại tiểu tiện thì “tùy nghi di tản” .Lên đường àh quên lên bè .Hai bên bờ “lúa ,sắn ngô khoai”nói cho xuôi vậy thôi chứ phần nhiều là ngô để chúng tôi đêm đêm “cắm con sào” tập kick .

Đến bây giờ tôi mới thấm thía câu “Thuận buồm xuôi gió chén chú chén anh,lên thác xuống ghềnh cắn nhau như rạm” .Khi suôn sẻ bè ta nhẹ nhàng trôi, ngồi trên bè tha hồ mà ca hát ,mơ màng .Những khi gặp cạn,tảng đá ngầm ,nước chảy xiết bè vợt vờ quật ngược đập xuôi ,kéo ,đẩy, kích đều vô ích chỉ biết chờ con nước hoặc tháo ra từng mảng đóng lại .Rồi mất liên lạc với bè bạn ,đi cả ngày mà chả thấy chúng nó đâu .Băn khuăn nên chờ hay cứ vượt .Vẫn là thằng “liếm cuống cam” ra đầu bè, chắp tay sau đít, ngắm nghía như ông thầy thổ địa hồi lâu rồi cả quyết “Tụi nó còn ở sau mình!!!” nó giải thích “Cứ nhìn những cồi ngô,bã ngô  trôi nổi đầy sông thì rõ” thì ra ngô dù nhai kỹ ăn xong cũng thả nổi đâỳ giòng.Mà đúng thật, vừa quá ngọ đã thấy bè ai lấp ló bên sông .Cả lũ cười như mùa thu tỏa nắng …

Những ngày ở Thanh chương tuy ngắn ngủi,nhưng đó cũng là kỷ niệm đầu đời .Nhớ và biết ơn những người dân nghèo mà tốt bụng .Nhớ bờ sông ,dòng suối, đồi dương xỉ cảnh hoàng hôn đắm đuối tuổi teen . Nhớ và biết ơn mãi món nhút đã giúp ta mài dùi sách vở năm xưa Nhớ những “tên trộm”ngô nghê như Nghêu Sò, Ốc hến .Giờ đã trưởng thành .Thằng bạn cõng tôi qua suối tránh nhiễm trùng giờ đã là sĩ quan (gần thành ông tướng)bác sỹ .Cô bạn tóc đỏ ngỗ nghịch ngày đó du học xong về gõ đầu trẻ và sắp sửa thành bà,rồi thằng bạn “Cà phê cô”giờ đã có ô tô chở cả bọn đi càfe’ thoải mái,trả thù ngày tháng cũ.  Hỏi thăm lại những người bạn năm xưa bỗng nghe tiếng trẻ thơ “Ông nội ơi điện thoại,ông nội ơi điện thoại”hóa ra vẫn là thằng bạn “Liếm cuống cam” ngày xưa bỏ tiếng của đứa cháu đích tôn làm chuông điện thoại .Cả bọm cười ồ sảng khoái ,đúng là “CÀ CUỐNG chết tới đít vần còn CAY”

  

Mưa Ngâu

Miền trung quê tôi tuy khí hậu ngặt nghèo nhưng cũng đầy đủ bốn mùa xuân, ha, thu, đông, mùa nào thức nấy, nhưng rõ nét nhất là những cơn mưa rào đầu hạ, mưa xối xả, mưa dồn dập, mưa “như cầm trĩnh mà trút” để rồi lại bị thổi khô rông rốc bởi những trận gió Lào độc địa .

Vậy mà trước khi đi vào thu ông trời còn giận dữ, gắt gay, ban cho cái “nắng tháng tám, rám trái bưởi” và cuối cùng là những cơn giông của cuộc “chọi trâu” nảy lửa ,mưa gió ,sấm chấp đùng đùng .

“Hai vật đi cùng đường
Trên đầu bốn khúc xương
Ngân Hà là trận tuyến
Hung hăng mở chiến trường”

Tục truyền hàng năm cứ vào ngày mồng mười tháng tám (ta) là hai con trâu của nhà trời “đến hẹn lại lên” gặp nhau bên giải Ngân Hà đua sức mạnh.Những lúc đó trời đất tối sầm, u uất, những đám mây đen chở ông thiên Lôi, với hai cái ba-lô đầy sấm sét, xà thấp tận cây đa, mái nhà như dò xét, sẵn sàng trừng phạt kẻ nào dám cả gan càn trở. Hai con trâu nhà trời mặc sức hục hoặc làm đất trời nổi gió, nước bắn tung tóe xuống trần gian, hòa với sấm chớp đùng đùng thành những cơn giông dữ dôi. Những lúc đó tốt nhất là ngồi trong nhà,quây quần bên rổ ngô, lạc rang hay nồi khoai lang luộc nghe bà ngoại kể chuyện “vợ chồng Ngâu”.Cũng vào mùa này lại hay có “mưa Ngâu”,Mưa bất ngờ, chợt đến, chợt đi theo dòng lệ vắn dài của hai vợ chồng Ngâu.Truyện rằng xưa thật là xưa có nàng tiên hiền, xinh đẹp xuống rong ruổi trần gian, gặp và phải lòng một trò nghèo hiếu học. tính tình lãng mạn ham vui mà quên cả thiên đình tiên cảnh, hai người trai tài gái sắc hợp ‎‎‎ý thành vợ thành chồng mà không hỏi ‎‎y kiến vua cha.Hồi đó kể cả Ngọc Hoàng vẫn còn lạc hậu lắm chứ không như bây giờ “con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đó” cho nên Vua cha nghe chuyện bèn nổi giận đùng đùng sai Thiên Lôi triệu nàng về cung, rút phép thông công làm cho nàng không còn đi mây về gió để xuống trần gian thăm chồng được nữa,ngày lại ngày nhớ thương chồng lệ ướt, mày chau ,có chồng mà phải xa nhau biền biệt, đầu đàn ca, yến tiệc kể cả tiếng xé lụa giải khuây cũng không làm cho nàng quên người cũ.Thương tình Ngọc Hoàng bèn cho hai người gặp nhau hàng năm một lần cũng bên bờ sông Ngân:

Ngân Hà nước chảy làm đôi
Để chồng cách vợ xa xôi dặm trường

Dù gặp nhau nhưng cũng không được “tay bắt” mặt mừng mà chỉ

Nàng ở bờ tây, anh bờ đông
Nhớ thương khôn xiết lệ tuôn dòng

Hai người nhớ nhớ ,thương thương kể lể với nhau bằng ngấn lệ khoan nhặt, sụt sùi .Nước mắt của họ hòa vào dải Ngân Hà ,đổ xuống trần gian để rồi biến thành những con vật bé tí vàng vàng xen lẫn ứa màu đỏ máu của lệ nhớ thương, quyện lại với nhau, xuắn xúyt, ái ân, mê mẩn, để người trần gian gọi đó là rươi, xúc về đánh lên hòa với trứng bỏ tí vỏ qu‎ít thái chỉ, chiên lên thành món chả ngon tuyệt vời . Không phải vì nghèo khó mà người ta ăn những thứ “sâu bọ” đó mà là một đặc sản hiếm có, chỉ mỗi năm một lần. Hơn nữa với tinh thần “niềm vui chia đôi được hai niềm vui ,nỗi buồn chia đôi bớt nửa nỗi buồn” người ta đã cảm thông và muốn san sẻ nỗi niềm của hai vợ chồn Ngâu. Vì sự hội ngộ ngắn ngủi đó mà rười chỉ có ở vùng nước lợ, vào buổi mưa Ngâu mà thôi nhiều nhất là từ Ninh Bình trở vào, nhất là Nghệ Tĩnh hầu như ai ai cũng biết tới rươi, ngoài ra có nhớ, có thường thì cả năm,có giàu như L‎ý Thông cũng không bói đâu ra rươi tươi, họa hoằn lắm với vớ được món mắm rươi, chấm với thịt lợn luộc cũng là món ngon dân dã , khó quên .

Xa quê đã lâu, không như những kẻ làm bộ, vờ vĩnh “văn minh” trông thấy rươi thèm rõ dãi lại còn “eo ơi gớm chết”. Tôi vẫn cứ nhớ ngày “chọi trâu”, nhớ mưa Ngâu và thèm được thưởng thức món rươi đặc sản, vẫn còn nhớ như in lời nhắn nhủ:

Dù ai buôn đâu bán đâu
Mồng mười tháng tám “trọi trâu” thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Mồng mười tháng tám thì về “trọi trâu”

Ngày “chọi trâu”, “mưa Ngâu” với những con rươi đắm đuối tượng hình của vợ chồng Ngâu “hai đầu nỗi nhớ” tìm đâu ra ở phương trời xa lạ ?

RTC

 

Con Cún nhà tôi bé tí tẹo, chỉ nhỉnh hơn con mèo tí xíu, lông trắng phóc luăn xoăn mềm mại ,trông giống như con gấu bông, dễ thương lắm.Nhưng cái đáng yêu hơn cả là cái tính “trẻ con” và chung thủy của nó . Ngày nào cũng như ngày nào, nắng cũng như mưa Cứ chầu chực chờ chủ về là nhảy cẩng lên rối rít, ngúng nguẩy cái đuôi tụt ngủn, ư hử trong họng ra chừng mừng rỡ lắm. 

Những lúc đó thì cho dù có bực mình chuyện gì đi nữa lòng cũng chùng xuống mà bế thốc nó lên vuốt ve, nhè nhẹ như vỗ về đứa trẻ thơ.

Cũng nhờ nó mà nhà đỡ trống trải khi con gái đi học xạ. Hèn gì ở Mỹ người ta coi chó như một thành phần trong gia đình quý “Men’s best friend” chỉ xếp hàng sau phụ nữ và trẻ em mà thôi .Lớ xớ đánh chó là phải đi tù chứ chẳng chơi .Đừng có mà lăm le “hạ cờ tây” mà phải tội sát …nhân, hơn nữa còn bị coi là mọi rợ hơn kẻ nổi khùng khi không cầm súng bắn loạn xạ .

Không hẳn là mình học đòi, hay bị nhồi sọ, nhưng những đức tính quý báu của chó tự nhiên chiếm cảm tình làm cho những đệ tử trung thành nhất của hội “R.T.C.”mới đầu cũng phải dè môi tự an ủi “Chó Mỹ bị tiêm chủng lại không biết tự túc lương thực như chó của mình thì miếng dồi làm sao ngon được”rồi tự hẹn ngầm với nhau “ta về tắm lại ao ta, quốc lủi ,thịt chó mới là món ngon

Riêng tôi tuy không phải là đệ tử của lưu linh, nhưng cũng đã hơn một lần “nếm phải bả” cũng phải thừa nhận “sống trên đời ăn miếng dồi cho, chết xuống âm phủ biết có hay không”

Nhớ lại những ngày đầu ở Mỹ, ở đây rất đúng nghĩa đèn nhà ai rạng nhà nây. Buồn chỉ biết như Thạch Sanh đem đàn ra gẩy Cạnh nhà tôi có ông hàng xóm người Nga nghe những bản nhạc Nga mà chạnh nhớ quê hương nên hay qua lại hỏi han thân mật lắm .Ông cũng có con cún như của tôi bây giờ, ngày ngày chải “tóc” soi gương cho chó xong là sang bắt chuyện .Cho tới một hôm ông rầu rĩ báo tin là con cún đã chết .Hồi đó “nào tôi đã biết gì” cho nên cũng làm bộ rầu rĩ an ủi “tội nghiệp thế cụ đã mua lại con khác thế chân chửa” .Ông tím mặt, khoát tay vùng vằng bỏ đi và ít khi bắt chuyện nữa. Nay thì tôi đã hiểu .Vậy mà hồi trươc….

Ở thành phố thì cái gì cũng như quần áo may sẵn, chỉ bỏ tiền ra là có, kể cả thịt chó. Người Việt mình lạ lùng lắm không ghét chó nhưng khi ghét ai thì lại rủa là đồ chó, khi làm lành lại cùng nhau vào quán thịt chó, chén chú chén anh. Ở Vinh sơ sơ cũng có hai nơi bạn cứ bình tâm gọi Tồn hay Ngọc chó, họ không giận mà lại cười thich thú cứ như là được thưởng hai tấm huân chương vậy. Đó là hai quán nổi tiếng ở Vinh, họ thiện nghệ lắm .Tôi nghe nói vậy thôi chứ it khi có vinh dự được vào chốn thâm cung đó .Chỉ có cái dạo sơ tán về miền quê tôi mới được chứng kiến tận mắt từ đầu chí cuối cảnh diệt phát xit (hạ cờ Tây-cầy tơ)

Cái làng tôi ở vừa qua một cơn lốc dữ dội người ta đã dọn sạch đi phần nào nhưng cái âm hưởng của nó cũng vần còn:

Lốc sáu tư (1964)

Thật là hư hại

Tôi xin kể lại cho bà con nghe

Lốc từ cầu Đước lốc về

Lốc xúay bốn bề

Cột điện bổ tứ tung

Đầu làng có nhà cháu Chung

Hắn bổ cái đùng

Nhà mạ lăn quay ….

Đại loại là may mắn lắm mới thoát nạn, đồ sộ như cầu Kim Mã (hưng Tây) cũng bị hất nhào xuống sông huống hồ cái nhà gạch lớn nhất xã của lão Tri Năm. Đó là một lão cao lênh khênh khó đoán tuổi ,hắn ta là con thứ năm của tri phủ cũ, nên người ta gọi là Tri Năm. Thành phần bóc lột hồi đó cũng đang bị phân biệt dữ lắm cho nên lão chỉ thui thủi một mình, nhà đổ thế nào lão để thế ấy, lâu lâu có người tới gạ hỏi mua cái rường cái cột gãy những hãy còn tốt chán thì lão rút ra bán lấy tiền hay đổi lấy gạo. quần áo không biết làm sao nhưng nồi niêu xoong chảo thì không có, lão nấu ăn trong những cái ống sữa bò cũ, cơm ống này, canh ống khác rồi cũng chẳng cần xới ra, cứ để cả trong lon mà xực .Tụi trẻ con ác miệng còn bàn tán :”Lão Tri Năm giờ này còn chơi sang, ăn toàn đồ hộp”.Lão ta có tài hoạn lợn và làm thịt chó .Không biết có phải toàn xài đồ hộp trở nên thiện nghệ mà người ta đồn chỉ một lon nước sôi lão có thể sạch lông con chó cỡ bự. Nhưng cứ nhà nào làm thịt chó mà có lão thì gọn gàng hơn, tiết nhiều hơn mà thịt có lẽ cũng ngon hơn.

Hồi đó đâu có dư dả như bây giờ, từ bé tới lớn tôi thường ước ao “mong muốn đến tột bực” được ăn trọn bộ cái đùi gà bóng nhẫy chứ đừng nói gì tới cái món rựa mận đó. Sau này hơi lớn một tí khi về lại thành Vinh ,có thằng bạn vốn là nhà nó cá mấy chú dân lái xe, khi về nhà thường nhờ tụi tôi ngủ trông xe, “Cục đất mà vất lên xe, ba ngày ,bảy bữa ba que ,bụi đời” huống hồ học trò tinh nghịch .Mấy đứa chưa từng học qua lái xe chỉ học lỏm “tim mình là tim đương” và: “đi số thì phải có đà, về số thì phải vù ga giữa chừng” vậy mà dám mở chìa khóa đưa xe đi ….cán chó. Giống chó tuy khôn nhưng khi bị ánh đèn pha chiếu thì lại bị “đóng đèn” đứng ngây ra chịu trận, một thằng lái, hai tay ôm cứng vô-lăng như sợ nó văng mất, chân đạp “côn” hô thằng bên cạnh “đi” hay “về số” vậy mà cũng biết khéo léo lườn lách để không cán mà chỉ hù tụi chó húc đầu vào bánh xe, thế mới nguyên lành mà làm thịt được.. Nghĩ lại thấy tội lỗi tày trời .

Khi về thăm quê kể lại cho bạn bè cũng như con chiên ngoan đạo đi “xưng tội” phải nói rõ là mình đã bị đế quốc tẩy não, tụi nó cũng thông cảm “thì đi ăn thịt dê vậy” .Vào quán nào tôi cũng phải cẩn thận nhìn trước ngó sau tuy xa đã lâu nhưng lạ gì cái thói quê choa “Treo đầu dê,bán thịt chó”

 

 

 

 

“Đây mùa thu tới”

Ở đây, khí hậu địa trung hải thật là dễ chịu. Quanh năm đều đặn kéo về xuân, hạ, thu, đông, nhiều khi lại có đầy đủ bốn mùa trong một ngày. Ngoài 100 độ h nhưng trong nhà cũng phải tắm nước nóng “khỏi bị cảm lạnh”, tuy hè về nóng bỏng mà tối tối lại phải đắp chăn, Giá như có thêm gió mùa đông bắc hoặc gió Lào mùa hạ cũng chẳng hề chi vì nhà cửa kín mít như cái hộp , rồi chuyển qua cái hộp bé biết đi, đưa ta tới cái hộp lớn hơn để làm việc. Bỏi vậy khi thu sang, tàn hạ khí trời thay đổi đột ngột cũng khó mà len lỏi vào giấc mơ , ít ai trong giấc ngủ mà hạnh phúc cảm được cái se se, da diết của “gió lạnh đầu mùa”. Chỉ buổi sáng, cuối tuần, mang ly trà, ra vườn nhà, mặc thêm cái áo khoác mỏng, hít thở cái không khí trong lành mới sực nhớ àh! “đây mùa thu tới”!!!.

Mới chớm thu, chưa có cảnh “lá thu rơi xào xạc” nhưng khí trời cũng dìu dịu mát đủ cho từng đàn ong, đàn bướm xập xòe đôi cánh nhún nhảy quanh những nụ hoa vừa chớm nở vội vàng. Bầu trời như trong hơn, xanh hơn, cao hơn làm cho lòng người càng thêm xốn xang, buồn vô cớ và mênh mang nỗi nhớ.

“ Cứ mỗi độ thu sang

Hoa cúc lại nở vàng”

Hoa vàng, lá vàng, “con nai vàng ngơ ngác”. Người ta thường tả mùa thu với màu vàng ảm đảm. Riêng tôi mùa thu lại là mùa lý tưởng nhất. Không quá rộn rã như xuân qua, không nóng nảy nồng nàn như riêng chung mùa hạ, không có gió đông về lạnh giá con tim, với tôi mùa thu với se se “rét mướt luồn trong gió” với rạng rỡ từng đàn trẻ tưng bừng ngày tựu trường mới mẻ. Khi xa quê mùa thu với tôi lại là mùa nhung nhớ, nhớ “áo thu phai dệt nắng vàng”… Đẹp thay lúc thu sang, mùa thu, mùa hoa cúc cũng là mùa canh cá cháo.

Nhớ về quê hương người ta hay nói về “cây đa bến nước sân đình” nhưng riêng tôi, ngồi đếm mùa nhung nhớ, quẩn quanh cũng chỉ những món ăn, những kỷ niệm sụp xì quang nồi cơm nấu dở. Ngày xưa nghèo khó, ăn chưa đủ no cho nên trẻ con cũng biết lo từ tấm bé , phải chăng “một miếng khi đói bằng một đọi khi no” bởi vậy nó cứ đeo đẳng với tôi như ghánh nặng cuộc đời

Không giàu có, nhưng quê mình cũng đủ mùa nào thức ấy, mùa đông thì:

Ai ơi canh cải nấu gừng

Thương nhau thì nhớ, xin đừng phụ nhau

Hoặc “Ai đưa ếch đến với cà” Những ngày hè tháng ba, tháng bảy sau những cơn mưa rào xối sả còn gì hơn ngồi bên nồi cà bung ăn mừng chiến lợi phẩm chụp ếch. Những ngày sơ tán về miền quê trừ gạo bốn hào phải mua còn thức ăn thì tự biên tự diễn. Từ mò cua, bắt ốc, đi nhủi ,cất rớ, cất vó, đi nơm tôi đều thành thạo như là dân bản xứ. Vui nhất là những buổi “đi càn”.Những đêm trăng sáng người ta ới nhau ,người mang vó kẻ đem nôm, nhủi, ngang lưng thì thắt …cái oi vàng khè đen đủi mồ hóng. Dàn hàng úp lụp xụp kẻ đó người đơm. Sướng rơn người khi nghe cục một tiếng là đoán ngay được con rô, con diếc hay cá gáy, cá tràu .Ngoài đi tát cá còn có làm “trộ nhảy” đó là những đường nước thông bờ này mùa nọ, đắp lại đào cái hố thật sâu, tối tối khi gió nồm lên cá “quen đường cũ” cứ nhảy vào đó đến nửa đêm chạy một vòng cũng khối cá về mấy bà cháu,chị em nhềnh nhàng ăn cả tháng.

Tuy vụng về nhưng vì “muốn ăn phải lăn vào bếp” tôi cũng nhớ về quê hương bằng tập tành “cá đồng nấu khế, cá bể nấu măng” hoặc theo công thức:

Con gà cục tác lá chanh

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi

Con chó khóc đứng khóc ngồi

Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng

Con Trâu, Bò ngả bò nghiêng

Xin chớ mua riềng, mua tỏi cho tôi

Ngoài cái món “mục tồn” quốc cấm, ở đây còn thiếu nhiều món dân dã quê nhà “chả nơi nào có được”. Không những Tây mà cả Ta nữa hỏi hoài không ai biết CÁ CHÁO.

Đó là một loài cá biển hình hài dài như con cá trích nhưng dèn dẹt và lớn hơn, trắng trong nhìn thấu xương lại nhão nhệt như …cháo, ấy vậy mà khi nấu canh cúc thì lại “tuyệt cú mèo”, chẳng cần bỏ xương, ăn với cơm hoặc ăn bã hoài cũng không chán. Hình như cách nấu cũng rất đơn giản, chỉ thấy nước sôi rồi thêm cá và rau cúc, cọng vào mấy nhánh thì là cho thơm cửa thơm nhà. Cá cháo đã rẻ lại vừa ngon thành thử vào mùa thu hình như ở Vinh ta nhà nào cũng nấu canh cá cháo còn hết thu thi có nhớ, có thương cũng chẳng bói đâu ra.

Ngoài cái thân thuộc ấy, cá cháo còn có với tôi một kỷ niệm khó quên. Đó là ngày còn ở tạm trong gian nhà dành cho nhân viên cơ quan của ba tôi, hai dãy nhà song song và cái bếp chung tạo thành khung chữ U vừa đủ cái sân kín đáo cho tụi trò nhỏ làm trò đá bóng. Vất cặp sách vở làm “gôn tôm” cởi trần hùng hục chạy theo bóng mà quên cả “có cô bé nhà bên” đang bê một nồi canh cá cháo vừa sôi sục sục để đến nỗi úp đổ cả lên người, may mà không hề hấn gì nhưng cũng làm cho bé hết hồn khóc toáng. Bẵng đi một thời gian có ai ngờ cô bé nhà bên giờ lại là một hoa khôi của trường Huỳnh, chỉ “khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ” chuyện ngày xưa em còn nhớ chăng em?

Nói về món ăn, chơi nhởi , thi khó ai qua được cụ Vũ- Bằng cách khéo léo gửi gắm niềm thường nỗi nhớ vào những món ăn (chơi) trong “thương nhớ mười hai”dài theo ngày tháng, Nhưng đó là là nỗi niềm của kẻ sỹ Kinh Bắc, của người đã có tiếng tăm, có miếng ăn miếng để. Còn học trò xứ Nghệ, “chặt to, kho mặn” nổi tiếng với con cá gỗ thì “ái ân cũng chỉ thế này mà thôi”.

Ngòai kia trời tắt nắng, nhưng bóng trăng vằng vặc “luồn cửa sổ đòi thơ”, hỏi chị Hằng đợi chờ ai mà lơ lửng suốt canh dài, lại thêm một mùa thu-mùa nhung nhớ-Mỏi mòn, nhớ về kỷ niệm xa xưa va mong ước dù vẫn biết:

“Ai đâu trở lại mùa thu trước

Nhặt lấy cho tôi những lá vàng”

Ly cà phê “Mê Trang”

Dân Nam uống cà phê, chê dân Bắc: “nhà quê uống nước trà” (?) Chả biết có phải quê mùa không, nhưng chắc chắn không háo ngọt, chê soda,lại không thèm cà phê kiểu Mỹ (chảy tồ tồ như bò đái) thành ra suốt ngày tôi chỉ vui thú với chén trà.

Về tới Hà nội, nhảy ngay vào “quán cóc”goi liền, liên tiếp mấy chén chè (ly trà) suýt soa khoái khẩu cho bõ nhớ.Chè xanh thi Vinh vẫn còn nhưng chè chén(dân Hà Nội goi trà ly như thế) thì chỉ có Hanoi. Không ham café nhưng “nhập gia tùy tục” ở Hà nội hay Hồ Chí Minh city tôi cũng phải nhâm nhi mấy ly cà phê để làm qùa câu chuyện. Tuy không sành điệu nhưng cũng cảm thấy cafe ở Nha Trang là ngon hơn cả.Không có gì đặc biệt, quán vỉa hè, chỉ là cái bàn và mấy chiếc ghế nhưa bé tí, cứ sáng sáng cô bán hàng lại dọn ra chào đón. Phải nói kiểu cà phê “cái nồi ngồi trên cái ly” này mới đúng cách giết thời giờ cho khách vãng lai.Không thích đường, lại chả dám uống sữa (sợ ông Tào Tháo) tôi cứ gọi cà phê “không… người lái” cho đúng điệu giang hồ .

Chả là khi về quê, theo đòi, rong ruổi từ Bắc chí Nam cho xứng “Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng”. Nghé Nha Trang tuy sơn thủy hữu tình nhưng phải tội cứ một mình ra ngắm biển lại chạnh lòng vì ngóng thiên hạ:

“Biển một bên, em một bên

Anh đi trên dải cát êm đềm

Mênh mang sóng vỗ hồn vô vọng

Sóng biển vào anh với sóng em”

Thêm buồn vì nặng nỗi niềm riêng:

“Anh muốn, triều lên vỗ nhẹ bờ

À ơi!biển gọi những vần thơ

Buồm căng thuyền lộng, xa khơi mãi

Bãi cát, chiều nay lặng đứng chờ”

Lại liêu xiêu “một mình qua phố”, lẩm nhẩm một mình như thằng điên: “dừng chân quán năm xưa uống nước dừa hay nước mắt em …mơ”.Giọng ca dữ dội của Siu Black đưa tôi đến với “Ly cà phê Ban-Mê”. Quán dập dìu đông đúc, phần lớn là đám choai choai “con ông cháu cha” hay những tay có máu mặt, ăn trắng, mặc trơn “buôn dưa lê” sành điệu với mấy cô phục vụ viên bằng tuổi con cháu mình, ăn mặc “nghèo nàn” cợt nhả:

“Anh đi công tác Ban-Mê-

Thụt xong một cái anh về Play-

Cu anh nay cũng có gầy

Nhưng anh vẫn cứ ngày ngày nhớ em”

Cảm thấy ê chề, lạc lõng, tuy cà phê Nha Trang nổi tiếng thương hiệu “Mê Trang” nhưng “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” lại phủi đít vật vờ bát phố.

Cười thầm khi nhớ tụi bạn thường chê tôi là“Việt kiều dởm” cũng đúng.Một phần tuổi tác (thành ra hơi khó chịu), một phần không ưa cái lối xa hoa, khoe rởm, kệch cỡm. Mấy quán vỉa hè lại hợp gu hơn, yên tĩnh hơn, không bị nhạc hay lời bay, vạ gió, một mình ngồi đó, ngó trông thiên hạ: “Mặc ai tôm tép, mặc ai ù, mặc ai đi lọng đi dù mặc ai”. Cafe ngon,”cô hàng” lại càng tươi giòn, dịu dàng, nhỏ nhẽ, dạ dạ luôn miệng, với chiếc áo bà ba và nón bài thơ cũ kĩ mà duyên dáng.Hồi xưa có phải vì “mến cảnh lại càng thêm mến cả…” mà Nguyễn Bính viết bài thơ cô hàng nước hay không?nhưng phải công nhận quán vỉa hè mà đông (phần lớn là người lao động).Họ thăm hỏi nhau ôn tồn, thân mật, vì vậy tôi mới biết và cũng thấy ái ngại cho cô hàng cà phê.Em người Huế, ba mạ chạy giặc dã, sinh ra ở Nha Trang, đặt em tên Trang “Cực lắm đa anh “Gánh cực mà đổ lên non,co chân mà chạy cực còn chạy theo”.Lớn lên lấy chồng, ba sắp nhỏ là dòng Hoàng phái nhưng nghèo rơ nghèo rớch lại hay bịnh, nằm nhà hoài thành thử nhiều con, mà lại toàn gái, ý như ổng thương hay nịnh em? đặt tên tụi nó là Trang tuốc luộc: Huyền Trang, Quỳnh Trang, Mỹ Trang và đứa út là Mê Trang” có phải người ta đã chiếm thương hiệu “Mê Trang” của em hay không nhưng tôi đã phải lòng vì hương vị ngọt ngào, thơm dào dạt của nó.Em chỉ làm nghiệp dư buổi sáng,chiều về còn chăm sóc “ba nó và sắp nhỏ”. Vội vàng dúi thêm vào tay em mấy tờ xanh xanh, đo đỏ gọi là “huynh đệ chi binh” vậy mà cũng không thoát khỏi cái liếc xéo của “cô gái giao liên” (tour guide) đang từ trên balcon ném xuống “thằng cha già thả truyền đơn bừa bãi” đành ngậm ngùi quên hỏi nguồn gốc cà phê.

Về nhà, nhâm nhi ly trà lại nhớ tới hương vị cà phê vỉa hè.Ly cà phê Ban mê, cà phê Nha Trang, Mê Trang có lẽ cũng là một : ”ngọt ngào như nước giòng Hương,lời em dạ dạ, để anh thương, anh thương trọn đời”

Tiếng Nghệ

Kể cũng lạ, người trong một nước, cùng ngôn ngữ vậy mà còn nảy sinh ra nhiều tiếng địa phương .Điều đó còn dễ giải thích chứ thổ âm thì thiên hình vạn trạng, Chỉ riêng một tỉnh Nghệ-Tĩnh nhưng khi phát ngôn ta có thể đoán chắc chắn họ là người Nam Đàn ,Anh Sơn, Can Lộc , Hương Sơn hay Thạch Hà, Vinh Hồng Lĩnh . Nếu đổ lỗi giọng nói là do nguồn nước thì lý do đâu mà người Bắc di cư vào Nam, sinh năm, đẻ bảy, đời con,đời cháu, uống nước Đồng Nai dài dài mà vẫn phát âm giọng Bắc???

Cũng mô, tê, răng, rứa mà giọng Huế thì nhỏ nhẹ mà “tiếng Nghệ lại trọ trẹ, nặng nề khó nghe”. Miên trung còn có tiếng Quảng Nam ,Quảng Nghãi ngươi miền khác nếu nghe lần đầu thì thiệt đúng “eng không eng téc đèng đi ngủ” (1) cần phải có phiên dịch .

Hồi trước tuy dân miền Trung đã (và đang)chiếm nhiều vị trí quan trọng trong các cơ quan nhà nước và chính phủ , dân miền trung tự xưa đã nổi tiếng có người tài giỏi nhưng vì giọng nói trọ trẹ khó nghe, cho nên đi đâu cũng thường bị hiểu lầm, chế diễu, không trước mặt thì cũng sau lưng bị chê là “tồ” cổ hủ quê mùa ?. Nhiều người miền trung vì thế mà thiếu tự tin, bị mặc cảm, cố bằng nhiều cách để che dấu “con cá gỗ”của mình .Người thì cố nói cho nhẹ nhàng ,dùng từ phổ thông cho chuẩn chính xác, kẻ lại “mua cái lồi về lấu cơm lếp” bê luôn cả mớ cho nó tiện bề xử dụng .Của đáng tội dân miền trung thì như cái điểm giữa của bàn cân nghiêng về bên nào cũng được ,tiếng Bắc cũng hay mà tiếng Nam cũng nhại, xài được .Hơn nữa trời cho, biết phân chia tr, ch ,s ,x ,n ,l và r sòng phẳng chính xác chỉ mỗi nỗi nặng nề mà mọi dấu ngã đều bị phát âm thành nặng cho “thắm đượm tình quê” .Một thời đài BBC muốn lấy tiếng Vinh làm chuẩn cho ban Việt nghữ, sau bị nhiều phản nàn là “khó nghe” thành ra hủy bỏ .

Nói như vậy không phải là bảo thủ, cái gì của mình cũng hơn người , mà phải biết iu, khuyết điểm để gìn giữ và học hỏi, sửa đổi, để hòa đồng đó là một điều cân khuyến khích, phát huy. Để người khác tỉnh khỏi “nhọc nhằn” khi chỉ “nghe giọng nói” thì mình cũng phải chọn lời, chọn tiếng “cho vừa lòng nhau” . Nhưng cũng đừng quá lố để người đời đặt chuyện chế diễu như có cô gái Nghi Lộc, học ở Hà Nội khi về quê, cùng cả nhà ăn tiệc xum vầy, kể chuyện đi đường thì dở giọng bắc “Ở Hà lội chời lắng chang chang (rồi buột miệng tiếng Nghi Lộc) vềee đến cầu Cấm trời mưa như cầm trĩnh mạ trút”. Đó là chuyện truyền miệng không rõ thực hư ,còn chính tôi khi bị ông xe ôm đổ bộ xuống vùng ngoại ô Hồ Chí Minh city gọi thằng bạn (dân Nghệ nhưng đã thành thổ địa ở đây) ra đón nó hỏi ở đâu thì chịu, đưa phone cho chú nhỏ bán hàng bảo chỉ dùm đường, nó cầm nghe, trả lại rồi nói: “ông ấy xài tiếng nước ngoài cháu nghe không hiểu” may mà tôi nhanh trí bảo nó cứ nói tiếng Việt đây là đâu là được, thoát nạn .

Trở về chuyện “chời mô chong” thú thực tôi rất bức xúc và thắc mắc “vị chi một chút tẻo tèo teo” nhưng chính nó lại là linh hồn của bài hát lẽ nào các nhà sản xuất (CD) các nhạc sỹ sáng tác lại nhắm mắt làm ngơ để cả bài ca (dù giọng ca hay) “Trái gió cho nên phải lộn lèo”.

Người ta thương nói âm nhạc là tiếng nói chung của nhân loại, bất cứ ai nghe nhạc của bất cứ chủng tộc nào, tuy không hiểu lời nhưng cũng hiểu được âm điệu, tâm hồn, cũng xiêu viêu trong tiếng đàn, nhịp trống .Một điều kỳ lạ là một ca sỹ dù không nói được ngoại ngữ, vậy mà khi ca lời ca của bản nhạc ngoại quốc lại phát âm lại rất chuẩn .Hoặc ở Nghệ an những người dân (bình thường ) Hưng Dũng, Nghi Lộc khi hát (karaoke) mà không hề nhầm lẫn cà có đuôi hay có cuống

Tóm lại cũng như mọi người ham thích văn nghệ tôi thường nghe để thưởng thức những giai điệu quê nhà .Từng biết một bài hát nhưng có nhiều người ca, Cố tìm cho mình ít nhất một bài hay ,hợp ý .Không phải chỉ riêng những bài về Nghệ TĩNh mà cả các thể loại đồng quê khác, của tất cả mọi miền tổ quốc. Không có khiếu nhưng khi hứng thú tôi cũng lẩm nhẩm nhại theo bài vọng cổ hài“Văn Hường đi Suzuki”:

“Cùng dzượt đường xa, cùng dzú ga ta bay vù vù …” à quên “dzù dzù”

Chú thích: (1) ăn không ăn tắt đèn đi ngủ